3 Bông Hồng Hương Sắc
Họ đă lần lượt cùng nhau khuấy động sân khấu, tô điểm, dát vàng thêm cho một sân khấu cải lương đang lúc hoàng kim rực rỡ. Ba con người, ba giọng ca, ba phong cách khác nhau hoàn toàn, nhưng họ giống nhau ở chỗ nổi tiếng từ rất sớm và giọng ca mang nét riêng độc đáo chính là điều kiện đầu tiên đưa họ đến với vinh quang. Cho tới bây giờ, dù không ai được phong tặng danh hiệu ǵ về ca vọng cổ, nhưng nhắc đến họ, người ta không thể phủ nhận một điều – chính những giọng ca ấy đă góp phần chắp cánh cho bài vọng cổ vươn măi vào những nỗi đam mê…
![]() |
MỸ CHÂU “Sở trường của tôi là ca dây kép”. Có năng khiếu ca hát từ rất nhỏ nhưng lại là năng khiếu ca nhạc và sở thích của Mỹ Châu (cho đến bây giờ) vẫn là tân nhạc. Hồi c̣n là một con bé ở dưới quê, mỗi khi mở đài đều nghe giọng ca cô Thanh Hương. Hai bài vọng cổ đầu tiên Mỹ Châu học ca là “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” và “Tâm Sự Cô Gái Mù”, cũng là hai bài mà NS Thanh Hương ca trong dĩa nhựa. Nhưng khi theo nghề, giọng ca mà Mỹ Châu ái mộ nhất lại là của NS Út Bạch Lan, con đường đến với nghề hát của NS Mỹ Châu bắt đầu từ nỗi đam mê. Cô bé Mỹ Châu nghe theo ư muốn mẹ mà không hề có một khái niệm ǵ về cải lương và con đường gian truân theo nghề phía trước. “Tôi may mắn được trời ban cho chút thông minh, nhạy bén nên dễ dàng phân biệt được điều tốt xấu. Khi vào nghề, tự tôi phải biết nhận định và t́m một hướng đi cho ḿnh. Tôi c̣n nhớ lần đầu tiên đi thử giọng ở một hăng dĩa, người ta bảo tôi về tập ca theo giọng một cô đào đang nổi tiếng, tôi chỉ cười. May là khi vào hăng dĩa Asia, không có ai bảo tôi điều đó, nên mới có một Mỹ Châu bây giờ”. |
Chị cười vui khi nhắc về kỷ niệm, giọng cười thoáng chút tự hào. Không tự hào sao được khi chị từng có một quá khứ vàng son và những ǵ "cô bé” Mỹ Châu ngày xưa biết nâng niu, ǵn giữ đến bây giờ vẫn là một báu vật của riêng chị. Chất giọng thổ trầm buồn đầy quyến rũ cộng với những sáng tạo, t́m ṭi phù hợp đă làm cho giọng ca Mỹ Châu thêm năo dạ người nghe. “Chất giọng tôi thật trầm nên tôi ca được dây kép và thường sử dụng dây kép như một sở trường của ḿnh. Ở cung trầm, rất trầm tôi bắt gặp những âm rất lạ, rất hay. Từ đó khi vô vọng cổ ở ḥ nhất, tôi thường sử dụng hai dấu huyền-huyền hoặc nặng-huyền. C̣n trong ḷng câu, dấu càng “trắc” tôi càng thích, v́ tôi có thể phô diễn cái độc đáo trong giọng ca của ḿnh. Tuy nhiên cũng không thể không nhắc đến các tác giả như Viễn Châu, Loan Thảo, và sau này là Trọng Nguyễn đă biết cách khai thác từng nét riêng trong giọng ca của mỗi nghệ sĩ khi viết bài vọng cổ. Nhờ vậy mà cả bài ca lẫn giọng ca đều bộc lộ hết được những cái hay và để lại ấn tượng măi trong ḷng người nghe”.
Giọng ca Mỹ Châu một thời được mệnh danh là “liêu trai” bởi cái năo nùng, buồn thảm, cũng là một giọng ca mà cho đến bây giờ chưa có ai bắt chước được. Tuy nhiên, nhắc đến Mỹ Châu, người ta nhớ nhiều những vai diễn của chị (như Mai Thảo trong Trinh Nữ Lầu Xanh, Tiêu Anh Phụng, Sở Vân và sau này là rất nhiều vai diễn trên sân khấu cải lương), hơn là những bài vọng cổ, dù rằng người dân miền Nam vẫn nhắc đến bài vọng cổ Quê anh – Quê em (tác giả Trọng Nguyễn) do NS Mỹ Châu ca cùng NS Trọng Hữu. Giọng ca không c̣n thở than, oán trách mà như tươi tắn hơn và đầy nỗi tự hào. Nói về ca vọng cổ, chị vẫn khẳng định: “Không có một nghệ sĩ nào vào nghề mà không có một thần tượng để học hỏi. Bản thân tôi cũng đă học rất nhiều ở các chị Thanh Hương, Út Bạch Lan, Thanh Nga và rất biết ơn anh Minh Cảnh đă tận t́nh chỉ dạy tôi rất nhiều. Tuy nhiên, tất cả những điều học hỏi ấy chỉ có ích cho ḿnh khi bản thân ḿnh đă có một ái riêng – đó là giọng ca – là cái mà ḿnh phải tự biết trân trọng và ǵn giữ”.
|
THANH KIM HUỆ Tôi muốn sáng tạo không ngừng cho bài vọng cổ. Đó là quan niệm của NS Thanh Kim Huệ khi ca, viết bài vọng cổ. Chị bảo: “Chị chủ trương đi theo đường lối của anh Minh Cảnh, không muốn để cho bài vọng cổ bị đơn điệu, nhàm chán. Với mỗi bài ca, chị đều nghiên cứu t́m cách ca khác nau. Thật sự để làm được điều đó, phải có một làn hơi thật tốt mới có thể sáng tạo tùy thích theo ư ḿnh”. Nghệ sĩ Thanh Kim Huệ là người có may mắn đó. Từ khi c̣n là một cô bé mười ba, mười bốn tuổi, chị đă được mọi người chú ư nhờ có làn hơi tốt. Cô bé Thanh Kim Huệ thường xuất hiện trong vở diễn qua những vai đào con chỉ để… ca vọng cổ, dù rằng… chị thú nhận: “Ban đầu chị ca dở lắm, dở đến nỗi tự ḿnh c̣n biết được mà. Nghe cô Lệ Thủy, Mỹ Châu ca hay được mọi người mê quá, chị… tức lắm nên quyết học cho bằng được. Nghe người này, người kia ca xem họ hay ở chỗ nào rồi bắt chước theo. Đúng là lúc đầu cũng có nhiễm… Lệ Thủy chút đỉnh”. Chị kể về chuyện ngày xưa của ḿnh với tất cả sự sôi nổi, chân thành. Chị cho rằng ca chân phương ai ca cũng được, ca luyến láy mới khó, nên khi bắt đầu… ca hay là chị đă tách ra t́m một hướng đi cho riêng ḿnh. “Thời đó, các nghệ |
![]() |
sĩ Minh Vương, Minh Phụng, Minh Cảnh, Tấn Tài, Diệu Hiền, Mỹ Châu, Lệ Thủy… toàn là những giọng ca… chiến đấu, ḿnh là kẻ sinh sau đẻ muộn, không biết tự t́m ṭi để tồn tại là tự đào thải ḿnh. Thêm nữa, chị nhận thấy rằng đă là nghệ sĩ phải có giọng ca hay, nếu không cuốn hút được người xem, lớp diễn dễ bị nguội”. Nghệ sĩ Thanh Kim Huệ đóng chánh trên SK Kim Chung từ năm 1974 và hai vở diễn chị thích nhất là “Đường gươm Nguyên Bá” và “Lan và Điệp”. Riêng trong lănh vực ca vọng cổ, chị đă thu không biết bao nhiêu bài và có rất nhiều bài đi vào kư ức khán giả. Giọng ca trong trẻo, lảnh lót được phối hợp nhịp nhàng với kỹ thuật luyến láy, ngân nga cộng với làn hơi thiên phú như “một cô gái đă đẹp lại biết làm duyên”. Giọng ca ấy đă mang đến sân khấu một nét tươi tắn, trẻ trung làm người nghe thấy vui tươi, sảng khoái. Chị nổi tiếng ở hăng dĩa Việt Nam năm 1972 với bài vọng cổ “Yêu lầm” của tác giả Loan Thảo. Ngay từ bài vọng cổ đầu tiên “Sao không thấy anh về”, Thanh Kim Huệ đă sáng tạo đưa giọng Huế vào bản Lư giao duyên và được người nghe hưởng ứng. Sau 1975, giọng ca rộn ră ấy như được chấp cánh thêm với một loạt bài vọng cổ khác như “Dệt chặng đường xuân, Những người chị trên đảo dừa…”
Tiếng ca vui tươi ḥa vào niềm vui đất nước, bay đi khắp mọi miền đến bây giờ vẫn vậy, trong trẻo và cao vút, không c̣n mộc mạc như ngày xưa mà được thay bằng nét điêu luyện và sâu sắc. Chị vẫn thu ca cổ rất thường xuyên ở Đài Phát Thanh, Đài Truyền h́nh và băng Audio, nhưng lại từ chối thu video cải lương “kỹ thuật quay thu video làm hạn chế rất nhiều khả năng diễn xuất của diễn viên, chị không muốn h́nh ảnh Thanh Kim Huệ bị méo mó trong ḷng khán giả”.
![]() |
LỆ THỦY Gần 40 năm qua, Lệ Thủy vẫn là cô đào chánh, bước ra sân khấu vẫn giữ được nét duyên dáng để người xem nhớ đến từng vai diễn của chị, đó là lời của nghệ sĩ Diệp Lang khi nói về nghệ sĩ Lệ Thủy. Riêng đối với khán giả, Lệ Thủy c̣n là một đặc trưng, đó là sự chân chất trong giọng ca cộng với sự mộc mạc. Làn hơi thổ pha kim đă một thời khuấy động ḷng người với nhiều bài ca cổ nổi tiếng như: Em Bé Đánh Giầy, Cô Hàng Chè Tươi, Nấu Bánh Đêm Xuân, Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài… Thời đó, có người cho rằng giọng ca Lệ Thủy chịu ảnh hưởng của Thanh Hương, người nổi danh với bài ca cổ “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” (Quy Sắc) và rồi sau đó qua nét thể hiện trẻ trung, sinh động của Lệ Thủy, bài ca cổ này đă được sáng tạo mới như chiếc gạch nối giữa hai thế hệ đến với sân khấu cải lương. Gần 40 năm gắn bó với sân khấu, Lệ Thủy có một giọng ca không phôi pha với thời gian. Lệ Thủy không lạm dụng kỹ thuật, cứ ca b́nh dị, chân phương và mang hơi ấm của trái tim ḿnh truyền đến người nghe bằng niềm rung động chân thật. |
Từ độ 14 – độ tuổi chưa hiểu biết những bài ca cổ than thân, trách phận v́ dâu bể cuộc đời, đă được hăng dĩa truy t́m với mục đích mang lại cho người nghe cảm xúc lạ về bài vọng cổ. Phải nói một trong những người có công phát hiện ra giọng ca Lệ Thủy là soạn giả Viễn Châu, ông đă để Lệ Thủy ca với Minh Cảnh bài Em Bé Đánh Giầy để từ đó một năm sau Lệ Thủy đứng đầu danh sách các cô đào trẻ triển vọng của sân khấu cải lương miền Nam. Năm 16 tuổi (1964), Lệ Thủy đă được chọn trao giải triển vọng Thanh Tâm.
Sinh ra ở Vĩnh Long, trong một lần chạy loạn từ quê lên thành, giấy khai sinh bị cháy rụi trong lần xóm nghèo bị hỏa hoạn, nên cô bé Lệ Thủy không được đến trường công. Nhà nghèo, lại đông anh em, là thân chị hai Lệ Thủy phải phụ mẹ nấu bánh, gói bánh đem bán. Bước chân của Lệ Thủy đă đi khắp vùng Khánh Hội để rao bán. Chiều về phải trông em cho mẹ đi chợ, nấu cơm. Do đó thú vui của Lệ Thủy là ẵm em ra đầu ngơ, nơi có tiệm sửa radio để nghe vọng cổ. Chính bài ca cổ “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” của cố nghệ sĩ Thanh Hương đă vun đắp cho Lệ Thủy ḷng đam mê được làm nghệ sĩ. Có thể nói từ gánh Trâm Vàng do soạn giả Ngọc Văn nhận làm con nuôi đến khi Lệ Thủy rực sáng trên sân khấu công ty Kim Chung, hàng trăm vai diễn, hàng ngàn bài ca cổ đă gắn kết đời Lệ Thủy với sân khấu. Thời đó dư luận đă ban tặng cho Lệ Thủy nhiều nghệ danh, nào là Tiếng hát trong như pha lê, Giọng ca chuông ngân, Làn gió tươi mát của bài vọng cổ… Nhưng với Lệ Thủy, cảm nghĩ về sự nổi tiếng của ḿnh rất đơn giản: “Tôi trung thành với cách ca truyền thống không cầu kỳ, cũng không có bí quyết ǵ cả”. Có lẽ nhờ vậy mà từ một vai chánh đầu tiên trong vở Bẽ Bàng Duyên Mới cho đến Thoại Khanh Châu Tuấn mới đây, Lệ Thủy vẫn giữ được sự tươi mát không lẫn với ai, tạo nên sức hấp dẫn trong vai diễn. Hơn 35 năm qua, Lệ Thủy vẫn trung thành với sân khấu, cho dẫu cải lương lúc suy, lúc thịnh, nhưng Lệ Thủy vẫn bất chấp sự thăng trầm của sân khấu để đi với niềm đam mê.
Một thời Lệ Thủy rộ lên với những sản phẩm video cải lương từ Tiêu Anh Phụng, Mạnh Lệ Quân, Quân Vương và Thiếp, Trắng Hoa Mai đến Mắt Em Là Bể Oan Cừu, Xin Một Lần Yêu Nhau, Đường Gươm Nguyên Bá, Kiếp Nào Có Yêu Nhau. Sau đó là Lan và Điệp, Người Phu Khiêng Kiệu Cưới, Chuyện T́nh An Lộc Sơn, Tây Thi, Kiếp Chồng Chung, Lỡ Bước Sang Ngang, Bóng Hồng Sa Mạc, Trương Chi-Mỵ Nương, Hai Chiều Ly Biệt… và có lẽ yếu tố giúp Lệ Thủy trở thành ngôi sao cải lương là nhờ vào giọng ca, chính công chúng yêu cải lương “ghiền” giọng ca Lệ Thủy, mà Lệ Thủy đă đạt kỷ lục diễn xuất, có năm tham gia 60 vở diễn.
Đứa con cưng trong ḷng người miền Nam. Nổi danh từ rất sớm và trước cả hai nghệ sĩ Mỹ Châu và Thanh Kim Huệ, nhưng tôi viết về chị sau Mỹ Châu, Thanh Kim Huệ v́ muốn so sánh giọng ca của cả ba người. Không quyến rũ đến mê hoặc ḷng người như Mỹ Châu, cũng không nhiều kỹ thuật như Thanh Kim Huệ, giọng ca Lệ Thủy b́nh dị mà ngọt ngào, chân phương mà truyền cảm. Nó đi vào ḷng người nghe một cách nhẹ nhàng, mà mênh mang như hương đồng gió nội, quấn quưt vấn vương măi không rời.
Cái hơi hướng chân chất, mộc mạc mang đầy dư hương của sông Tiền sông Hậu làm cho giọng ca Lệ Thủy gần gũi hơn với tâm hồn người dân Nam bộ và từ đó người dân Nam bộ quư chị như đứa con thân yêu của ḿnh. Nổi tiếng từ năm 1963 với hai bài vọng cổ Chúc Anh Đài, Cô hàng chè tươi, NS Lệ Thủy và nam danh ca Minh Cảnh trở thành đôi nghệ sĩ được yêu mến nhất hiện thời.
Hỏi về ca vọng cổ, chị lắc đầu: “Tôi không nói được ǵ nhiều đâu. Từ hồi nào tới giờ, tôi có quan niệm là giọng tôi sao, tôi ca vậy, không thích cầu kỳ…”
Khi nghe văng vẳng giọng ca cải lương từ chiếc radio nhỏ xíu của những người làm ruộng, và một lần rồi nhiều lần đi ngang. Giọng ca đó là giọng ca của Lệ Thủy, một nghệ sĩ mà nói theo lời nhận xét của NS Diệp Lang là… “cô đào ngoại lệ” của sân khấu cải lương.
Power by LXT Design Group. For more information and support, contact .



